Hội Lưu học sinh Fukuoka

Ghibli- Hãng phim hoạt hình nổi tiếng của Nhật Bản

16/01/2013      Có 3 comments

 Hãng phim Ghibli (tiếng Nhật: 株式会社スタジオジブリ, Kabushiki-gaisha Sutajio Jiburi, tiếng Anh: Studio Ghibli, Inc.) được thành lập năm 1985 bởi hai đạo diễn phim hoạt hình nổi tiếng Miyazaki Hayao và Takahata Isao. Ý tưởng thành lập hãng phim được bắt đầu từ năm 1983 khi bộ phim Nausicaä của Thung lũng gió (Kaze no tani no Naushika) được hoàn thành bởi nhóm làm phim Topcraft, chính thành công của bộ phim này đã thúc đẩy sự ra đời của Ghibli. Ban đầu Tokuma là công ty mẹ của hãng phim và hãng này đã trao quyền phát hành toàn cầu của tất cả các tác phẩm của Ghibli chưa được phát hành ra thế giới trước đó cho hãng phim Disney, số phim này bao gồm cả các tác phẩm nổi tiếng nhất của Ghibli như Công chúa Mononoke (Mononoke Hime) hay Chihiro ở vùng đất linh hồn (Sen to Chihiro no Kamikakushi- Spirited Away).





 Các bộ phim của hãng Ghibli không chỉ nổi tiếng ở Nhật mà còn được đánh giá cao trên toàn thế giới.

 Tên của hãng phim Ghibli có nguồn gốc từ biệt hiệu được những phi công Ý đặt cho những chiếc máy bay trinh sát sa mạc Sahara của họ trong Chiến tranh thế giới 2, biệt hiệu này xuất phát từ tên tiếng Libya của những cơn gió nóng thổi qua sa mạc Sahara (gió Sirocco). Ý nghĩa của cái tên này là hãng Ghibli sẽ thổi một luồng gió mới vào ngành công nghiệp anime của Nhật Bản. Biểu tượng của công ty là nhân vật Totoro trong bộ phim hoạt hình của Miyazaki Tonari no Totoro (Người bạn hàng xóm Totoro của tôi).

 Hãng Ghibli được đánh giá là đầu đàn của ngành công nghiệp anime Nhật Bản. Các bộ phim của hãng vừa được đánh giá cao về mặt nghệ thuật, vừa đạt được doanh thu rất cao tại Nhật. Tính đến nay bộ phim "Chihiro ở vùng đất linh hồn - Spirited away" của hãng Ghibli vẫn đang là bộ phim ăn khách nhất Nhật Bản, bộ phim này đã phá vỡ kỉ lục về doanh thu được lập bởi Công chúa Mononoke cũng là một sản phẩm của hãng Ghibli.

   Các tác phẩm lớn nhất của đạo diễn lừng danh Miyazaki đều được thực hiện tại hãng Ghibli. Bộ phim hoạt hình nổi tiếng và nhận được nhiều lời khen ngợi nhất của hãng mà không phải do Miyazaki đạo diễn có lẽ là Mộ đom đóm (Hotaru no haka), một sản phẩm của đạo diễn Takahata Isao, một tấn bi kịch của hai đứa trẻ mồ côi vào giai đoạn cuối Chiến tranh thế giới 2 ở Nhật Bản. Đây cũng là bộ phim duy nhất mà hãng Disney từ chối phát hành.

   Theo bảng xếp hạng của trang web dữ liệu điện ảnh uy tín IMDB thì có tới 5 tác phẩm của hãng Ghibli (tức là còn nhiều hơn hãng phim hoạt hình nổi tiếng của Mỹ Pixar) nằm trong top 10 phim hoạt hình hay nhất trong đó có 3 phim của Miyazaki, 1 phim của Takahata và 1 phim của đạo diễn quá cố Yoshifumi Kondo.





   Ngoài phim hoạt hình, hãng Ghibli còn thực hiện các bộ phim ngắn, phim tài liệu nhưng tựu trung lại dấu ấn đậm nét để lại trong lòng người hâm mộ vẫn là các bộ phim hoạt hình đặc sắc.

   Studio Ghibli ra đời trong bối cảnh phim hoạt hình truyền hình Nhật Bản thống lĩnh thị trường. Điều này không chỉ tồn tại riêng ở Nhật Bản mà trên cả thế giới. Chi phí đầu tư cho một bộ phim truyện hoạt hình rất tốn kém, mà khả năng thành công lại không đảm bảo chắc chắn (ngay cả các đại gia như Walt Disney cũng gặp khá nhiều thất bại như vậy) khác hẳn với các series hoạt hình dành cho truyền hình. Do đó các công ty phim hoạt hình đều tập trung vào sản xuất phim hoạt hình ngắn.

  Tuy vậy điều đáng nói nhất về Studio Ghibli đó là hãng này đã mang đến một cái nhìn khác về anime cho phần còn lại của thế giới. Các anime movies do Studio Ghibli thực hiện hầu hết đều được vẽ bằng tay một cách chăm chút, chi tiết và đầy màu sắc hình ảnh (Princess Monoke là bộ phim đầu tiên có sự can thiệp của đồ họa máy tính, nhưng cũng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong toàn bộ khung hình). Điều này đã mang lại niềm tự hào hãnh diện cho công nghiệp sản xuất phim hoạt hình ở xứ sở hoa anh đào trước sự xâm lấn của các phim hoạt hình 3D của Hollywood.


  Các anime do Studio Ghibli sản xuất không chỉ đạt thành công về chỉ số thương mại mà còn về chất lượng nghệ thuật và truyền tải những nội dung ý nghĩa sâu sắc. Nausicaa of the Valley of the Wind (được coi là bộ phim đầu tiên được sản xuất trong khi hãng đang được thành lập), nằm trong top 50 bộ phim khoa học giả tưởng xuất sắc nhất do website IMDB bầu chọn. Laputa Castle in the Sky đứng thứ 21 trên bảng xếp hàng các bộ phim Hoạt hình xuất sắc nhất của IMDB. Grave of the Fireflies được xếp cạnh những bộ phim phản chiến nổi tiếng khác như Schindler's List. 3 bộ phim của Studio Ghibli đã dành được giải thưởng lớn tại Animage Anime Grand Prix là Laputa Castle in the Sky (1986), My Neighbour Totoro (1988) và Kiki’s Delivery Service (1989).






   Đặc biệt năm 2002 lần đầu tiên một anime dành giải Gấu vàng tại Liên hoan phim Berlin Spirited Away - Chihiro ở vùng đất linh hồn thực sự đã đưa danh tiếng của Studio Ghibli lên đỉnh cao. Cùng năm đó Spirited Away trở thành anime (và cũng là phim hoạt hình không nói Tiếng Anh) đầu tiên dành giải Oscar cho phim hoạt hình xuất sắc nhất. 2 năm sau đó, Howl’s Moving Castle cũng được đề cử giải Oscar cùng hạng mục tuy không chiến thắng nhưng đã khẳng định vị thế ngày một cao của Studio Ghibli.





   Đặc điểm chung của anime movies do Hayao Miyazaki thực hiện đó là: lên án chiến tranh, các vấn đề về môi trường; hậu quả của nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa; sự tham lam tàn nhẫn của người đối với đồng loại và đối với thiên nhiên. Đặc biệt Hayao Miyazaki luôn có niềm đam mê vô tận với bầu trời, các loại máy bay được thiết kế vô cùng độc đáo cùng trí tưởng tượng phong phú. Một điều nữa, trong khi Nhật Bản vẫn còn tồn tại quan niệm trọng nam khinh nữ thì các anime movies của Hayao Miyazaki đều đề cao vai trò của phái yếu. Trừ Porco Rosso các bộ phim còn lại, nhân vật trung tâm luôn là nữ giới, thông minh, mạnh mẽ, can đảm và tràn đầy lòng nhân hậu bao dung.

Ghibli rất nổi tiếng với chính sách cứng rắn “không biên tập” khi bán bản quyền phim ra nước ngoài. Việc này nảy sinh từ việc lồng tiếng tệ hại cho bộ phim của Miyazaki Nausicaä của Thung lũng gió trong lần bộ phim được phát hành tại Mỹ dưới cái tên Những chiến binh gió.

Khi đó bộ phim đã bị biên tập nặng nề và “Mỹ hóa” với việc viết lại cốt truyện và cắt đi nhiều phần quan trọng của phim. Một ví dụ tiêu biểu của chính sách “không biên tập” là khi đồng chủ tịch Harvey Weinstein của hãng Miramax đề nghị với Ghibli việc biên tập bộ phim Công chúa Mononoke cho hợp với thị trường Mỹ hơn trước khi phát hành. Để trả lời, một nhà sản xuất của hãng đã gửi đi một thanh kiếm Nhật(katana) thật và một thông báo ngắn gọn “Không cắt”.
  Ở Việt Nam, Ghibli có vị trí đặc biệt trong lòng người hâm mộ. Khoảng cuối những năm 90, đầu năm 2000 trên truyền hình có phát một số phim nổi tiếng của Ghibli. Trẻ em và cả người lớn đều quen thuộc những nhân vật như Totoro, con quái vật dễ thương và chiếc xe bus mèo chở bao nhiêu mơ ước trẻ thơ. Rất nhiều nước mắt đã rơi cho Mộ Đom Đóm, hay những hồi ức hoang đường thần bí nhưng quyến rũ cùng cô bé Chihiro với Sprited Away…

Các phim hoạt hình của Ghibli:

1. Nausicaä của Thung lũng gió (tiếng Nhật:Kaze no tani no Naushika, tiếng Anh: Nausicaä of the Valley of the Wind) (1984, trước khi thành lập Ghibli)
2. Laputa: Lâu đài trên không trung (tiếng Nhật:Tenkū no Shiro Rapyuta, tiếng Anh: Laputa: Castle in the Sky) (1986)
3. Mộ đom đóm (Hotaru no Haka - Grave of the Fireflies ) (1988)
4. Tonari no Totoro (Tonari no Totoro - My Neighbor Totoro ) (1988)
5. Kiki cô phù thủy nhỏ (Majo no Takkyūbin - Kiki's Delivery Service) (1989)
6. Ngày hôm qua (Omohide Poro Poro - Only Yesterday) (1991)
7. Porco Rosso (Kurenai no Buta - Porco Rosso) (1992)
8. Sóng biển (Umi ga Kikoeru - The Ocean Waves) (1993)
9. Pom Poko (Heisei Tanuki Gassen Ponpoko - Pom Poko) (1994)
10. Lời thì thầm của trái tim (Mimi wo Sumaseba - Whisper of the Heart) (1995)
11. Công chúa sói Mononoke (Mononoke Hime - Princess Mononoke) (1997)
12. Gia đình nhà Yamada (Hōhokekyo Tonari no Yamada-kun - My Neighbors the Yamadas) (1999)
13. Chihiro ở thế giới linh hồn (Sen to Chihiro no Kamikakushi - Spirited Away) (2001)
14. Sự trả ơn của bầy mèo (Neko no Ongaeshi - The Cat Returns) (2002)
15. Lâu đài bay của Howl (Hauru no Ugoku Shiro - Howl's Moving Castle) (2004)
16. Gedo Senki (Huyền thoại của đất liền và đại dương - Tales from Earthsea) (2006)
17. Nàng tiên cá phương Đông (Gake no Ue no Ponyo - Ponyo on the Cliff by the sea) (2008)
18. Karigurashi no Arrietty (Tạm dịch: Arrietty , Cô bé vay mượn - The borrower Arriety)(2010)
19. Kokuriko zaka kara (2011)

Nguồn: hoiquandisan.com
Đăng ở mục MANGA-ANIME-COSPLAY |  Có 3 comments
Comment
Mã an toàn  
lan nhi (02:04 30/04/13)Arigato.0

phim hoat hinh cong chua dai duong

phim hoat hinh nhat ban (10:04 06/04/13)Arigato.0

các bạn xem trọn bộ ghibli collection tại phimhoathinhnhatban.com

Dung Nhan (10:02 05/02/14)Arigato.0

Wow, toàn những phim hoạt hình hay mà mình từng coi, bấy lâu nay mình từng tìm kiếm phim hoạt hình hay của ông tác giả này!